Thứ hai, Ngày 21/05/2012     Cập nhật lúc 12:50:42

Australia có thể cấp visa cho các ‘công nhân tình dục’ nhập cư

  • InEmail

Nhiều tổ chức và cá nhân đề xuất chính phủ Australia thay đổi trong hệ thống quản lý nhập cư để tạo điều kiện cho các phụ nữ hành nghề mại dâm nước ngoài có quyền xin visa vào Australia hoạt động bình đẳng như những ngành nghề khác.

congnhantinhduc

Australia nên cải cách chính sách visa cho các 'công nhân tình dục' để hạn chế nạn buôn người? (Getty Images)

Ở một số tiểu bang Australia, nạn mại dâm không còn được xem là một dạng tội phạm và phần lớn hoạt động công khai.

Tuy nhiên, thậm chí ở các nhà chứa hợp pháp, vấn đề nô lệ tình dục và buôn người vẫn đang tồn tại.

Những người tham gia chiến dịch chống nạn nô lệ tình dục ở Australia cho rằng loại visa hợp pháp dành cho các ‘công nhân tình dục’ sẽ đánh thẳng vào nạn buôn người ở Đông Nam Á.

Trong khi đó, những người phản đối cho rằng động thái này có thể dẫn đến hiện tượng bóc lột phụ nữ và 'lợi bất cập hại'.

Đề xuất cấp visa cho lao động tình dục

Bà Joy Ezeilo, luật sư về nhân quyền người Nigieria đồng thời là một chuyên gia độc lập của Liên Hiệp Quốc nghiên cứu về nạn buôn bán phụ nữ, đã tới Australia để tìm hiểu tình cảnh của các nạn nhân và thảo luận các biện pháp chống buôn bán phụ nữ của nước này.

Bà Ezeilo đã gặp gỡ những phụ nữ Châu Á làm việc tại một số nhà chứa ở Sydney. Bà cũng xin ý kiến tư vấn của chính phủ và các tổ chức phi chính phủ về vấn đề này.

Bà Jules Kim hiện là giám đốc Dự án Di cư thuộc Tổ chức Scarlet Alliance (một hiệp hội bảo vệ các ‘công nhân tình dục’) cho biết tệ nạn buôn bán phụ nữ hiện nay rất nghiệt ngã.

Hơn nữa, sự phân biệt đối xử qua chính sách cấp visa nhập cư khiến phụ nữ ở các quốc gia khác phải nhờ những kẻ trung gian làm dịch vụ để được đến Australia và từ đó rất dễ bị rơi vào tay bọn buôn người.

“Công nhân tình dục gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận xin cấp visa. Trên thực tế, họ thường bị từ chối visa nếu bị phát hiện là gái mại dâm. Do đó, họ phải tiếp cận đối tượng trung gian hoặc những kẻ buôn người để có thể đi lại và làm việc”, bà Kim cho biết.

Bà Kim thúc giục chính phủ cho phép các ‘công nhân tình dục’ có quyền được xin visa làm việc như những ngành nghề khác. Đồng thời, bà kêu gọi chính phủ cung cấp thông tin về chính sách nhập cư được dịch sang những ngôn ngữ khác.

“Chính phủ có thể thực hiện biện pháp cải cách đơn giản bằng cách cung cấp các mẫu khai và thông tin về nhập cư được dịch ra các ngôn ngữ khác cho những công nhân tình dục xin cấp visa. Hiện tại, các thông tin này chưa được dịch, thậm chí, dấu trên visa cũng bằng Tiếng Anh và đây chính là yếu tố để bọn lừa đảo lợi dụng”, bà Kim đề xuất.

Lợi bất cập hại?

Bà Shirley Woods, một nhân viên cộng đồng làm việc trực tiếp với những nạn nhân của nạn buôn người thuộc dự án Respect ở Melbourne, ước tính khoảng 80% phụ nữ tới Australia làm gái mại dâm biết rõ họ cần phải xin visa.

Bà Woods cho rằng công cuộc cải tổ dự kiến có thể dẫn đến tình trạng số người bị lừa làm nô lệ tình dục gia tăng.

“Tôi cho rằng nếu những kẻ buôn người không còn kiếm tiền từ việc buôn bán phụ nữ thì chúng sẽ tiếp tục tìm cách khác. Có 20% phụ nữ tới Australia không biết rằng mình sẽ bị ép làm lao động tình dục và con số này sẽ tăng nhanh chóng”, bà Woods nhận định.

Trong số 14 vụ buôn bán phụ nữ ở Australia từ năm 2009, 13 vụ liên quan tới ngành công nghiệp tình dục. Tuy nhiên, khi tính minh bạch trong chính sách được cải thiện, bà Woods cho rằng mạng lưới tội phạm sẽ tinh vi hơn trong những mánh lới bẫy phụ nữ trở thành những lao động tình dục.

“Những tên buôn người trả lời rằng chúng đã trả tiền cho những người phụ nữ bị chúng lừa”, bà Woods cho biết. “Tôi đoán rằng bọn chúng giữ hộ chiếu của những người phụ nữ tội nghiệp. Như vậy, họ bị nô lệ về tâm lý và bọn buôn người biết rõ rằng hiện tương nô lệ về tâm lý khó có thể chứng minh trước tòa hơn nạn nô lệ về thể xác”.

Bà Jennifer Burn, phó giáo sư nghiên cứu luật học và hiện là giám đốc trung tâm Chống nô lệ Australia tại Đại học Công nghệ Sydney, tán đồng quan điểm cho rằng cần có phương pháp tiếp cận về nhân quyền và ngăn chặn tác hại để đối mặt với vấn đề buôn bán phụ nữ. Tuy nhiên, bà cũng phản đối đề xuất cải cách chính sách visa như một giải pháp.

“Tôi không tin rằng có visa hợp pháp là cách bảo vệ tốt cho những lao động tình dục. Có nhiều trường hợp visa không có tác dụng bảo vệ. Nhiều người bị bóc lột trong nhiều ngành nghề, ví dụ như ngành du lịch thương mại và nhiều ngành khác, mặc dù lao động nhập cư có visa diện nghề nghiệp và được phép làm việc tại Australia. Visa không phải là một phương tiện bảo vệ”, bà Burn nói.

Bà Jennifer Burn cho rằng dù với loại visa nào, điều cốt yếu là tạo điều kiện cho người nhập cư nắm rõ các thông tin về quyền lợi của mình. “Tôi cho rằng cần có những thông tin cơ bản tối thiểu dành cho những người nhập cư tới Australia về những yếu tố quan trọng trong nền dân chủ của đất nước”.

“Những yếu tố này bao gồm quy định tất cả mọi người đều được pháp luật bảo vệ, mọi người có thể liên hệ với cảnh sát, việc hành hung hay bóc lột người đều là các dạng tội phạm, nhân viên kiểm tra của Tổ chức Australia Fair Work có quyền giải quyết trong các trường hợp người lao động nhập cư bị bóc lột”, bà Burn bày tỏ.

theo bayvut abc